Thầy giảng Anrê Phú Yên đã hiến dâng mạng sống vì trung thành với Đức Kitô khi mới 19 tuổi, trở thành vị tử đạo tiên khởi của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Sau hơn ba thế kỷ, chứng tá đức tin của ngài được Giáo hội long trọng nhìn nhận qua việc tuyên phong Chân phước.

Chiều ngày 27/7, Giáo phận Đà Nẵng long trọng cử hành Thánh lễ kính Chân phước Anrê Phú Yên tại Đền thánh Anrê Phú Yên – Phước Kiều, thuộc phường Điện Bàn.
Thánh lễ do Đức Tổng Giám mục Giuse Đặng Đức Ngân, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế, kiêm Giám quản Tông tòa Giáo phận Đà Nẵng, chủ tế. Đồng tế với ngài có hơn 100 linh mục, cùng sự tham dự của khoảng 2.000 giáo dân và khách hành hương.
Trong bài giảng, Đức Tổng Giám mục Giuse khẳng định Chân phước Anrê Phú Yên là ngọn đèn đức tin vẫn không ngừng tỏa sáng suốt gần bốn thế kỷ qua.
Ngài nhấn mạnh rằng dù chỉ mới 19 tuổi, không có quyền lực hay địa vị trong xã hội, Thầy Anrê lại sở hữu điều quý giá nhất: một trái tim hoàn toàn thuộc về Đức Kitô. Thầy không để lại những công trình hay tác phẩm lớn lao, nhưng đã để lại một cuộc đời được Tin Mừng biến đổi và một chứng tá trung thành cho đến hơi thở cuối cùng.
Qua phần diễn nguyện trước Thánh lễ, bài giảng của Đức Tổng Giám mục Giuse cùng những sử liệu được lưu giữ tại Đền thánh, cuộc đời và hành trình tử đạo của Chân phước Anrê Phú Yên một lần nữa được tái hiện trước cộng đoàn.
Tượng Chân phước Anrê Phú Yên được cung nghinh trang trọng vào lễ đài, nơi đông đảo tín hữu quy tụ để cầu nguyện, tạ ơn và tưởng nhớ người chứng thứ nhất của Giáo hội Việt Nam.
Chân phước Anrê Phú Yên sinh năm 1625 tại Ranran, thuộc vùng Mằng Lăng, Phú Yên. Mồ côi cha từ nhỏ, Thầy được người mẹ đạo đức hết lòng chăm sóc, nuôi dưỡng và cho theo học chữ Nôm.

Khoảng năm 15 tuổi, Thầy cùng mẹ lãnh nhận Bí tích Rửa Tội do Cha Alexandre de Rhodes, thường được gọi là Cha Đắc Lộ, cử hành. Tên gọi Anrê Phú Yên từ đó gắn liền với tên thánh và quê hương nơi Thầy được sinh ra.
Năm 1642, Thầy theo Cha Đắc Lộ ra Hội An và gia nhập Hội Thầy giảng, một cộng đoàn gồm những người trẻ tự nguyện cộng tác với các nhà truyền giáo trong việc loan báo Tin Mừng, dạy giáo lý và phục vụ các cộng đoàn tín hữu.
Sau khi khấn giữ đời sống khiết tịnh, Thầy dành trọn thời gian cho việc cầu nguyện, học hỏi giáo lý và giúp đỡ mọi người. Với lòng nhiệt thành truyền giáo, Thầy còn tự tay chuẩn bị các máng cỏ và hang đá Giáng Sinh nhằm giới thiệu mầu nhiệm Chúa Giêsu giáng sinh đến với những người chưa nhận biết đạo.
Tháng 7/1644, ông Nghè Bộ, quan đứng đầu địa phương, nhận lệnh từ Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, vị chúa Nguyễn thứ ba cai trị Đàng Trong, yêu cầu hạn chế các hoạt động truyền bá Công giáo và cho quân bao vây những cơ sở có liên hệ với Cha Đắc Lộ.
Thầy Anrê bị bắt khi đang chăm sóc một người đau yếu tại một ngôi nhà gần Faifô, tức Hội An ngày nay.
Khi bị quân lính trói tay chân, Thầy xin được cởi trói trong chốc lát để tự tay thu xếp các đồ dùng phụng tự một cách trang nghiêm trước khi chúng bị tịch thu. Thầy cũng tự nguyện nhận trách nhiệm thay cho một thầy giảng khác đang đau yếu.

Trước mặt quan Tỉnh trưởng, Thầy bị chất vấn về lý do đi theo một linh mục ngoại quốc là Cha Alexandre de Rhodes. Thầy bình thản trả lời rằng mình đi theo vị linh mục để học biết giáo lý của Thiên Chúa, hoàn toàn xuất phát từ lòng yêu mến và xác tín đức tin.
Dù trải qua nhiều lần tra hỏi và bị yêu cầu từ bỏ đạo, Thầy Anrê vẫn một lòng trung thành với Đức Kitô, không chối bỏ đức tin đã lãnh nhận.
Sau đó, quan Tỉnh trưởng ra lệnh tống giam Thầy. Ngày 26/7/1644, bản án tử hình được công bố và thi hành ngay trong buổi chiều tại một cánh đồng thuộc thôn Đông Khương, trấn Thanh Chiêm, tương ứng với khu vực làng Phước Kiều ngày nay.
Trước giờ chịu chết, Thầy Anrê đã nói với những người hiện diện rằng mình bị bắt và sắp phải chết không phải vì trộm cướp, giết người hay làm hại bất kỳ ai, nhưng chỉ vì đã tuyên xưng Thiên Chúa là Chúa Tể trời đất và tin nhận Đức Giêsu Kitô là Con Một Thiên Chúa đã xuống thế cứu chuộc nhân loại.
Với lời tuyên xưng ấy, Thầy đã can đảm đón nhận cái chết trong niềm tin và trở thành vị tử đạo tiên khởi của Giáo hội Công giáo Việt Nam.
Sau cuộc tử đạo, thi hài Thầy được đưa về nhà dòng, rồi theo một con tàu Bồ Đào Nha đến Macao. Từ tháng 8/1644, phần thi hài được lưu giữ tại Nhà thờ Thánh Phaolô ở Macao, trong khi phần đầu của Thầy được đưa về Nhà Tổng quản Dòng Tên tại Roma.
Từ ngày 12/12/1644 đến ngày 25/3/1645, nhà chức trách Giáo hội tại Macao đã triệu tập 23 nhân chứng để thu thập lời chứng và tiến hành điều tra về cuộc đời cũng như cái chết vì đức tin của Thầy Anrê.
Các bản tường trình của Cha Đắc Lộ, đề ngày 1/8/1644, và của Cha Antôn de Torres, đề ngày 5/10/1644, trở thành những tư liệu lịch sử quan trọng trong hồ sơ án phong Chân phước sau này.
Dựa trên những chứng từ lịch sử, cùng bản báo cáo sử học dài 214 trang được thực hiện với sự cộng tác của Giáo hội Việt Nam, ngày 5/3/2000, tại Quảng trường Thánh Phêrô, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng tuyên phong Thầy giảng Anrê Phú Yên lên bậc Chân phước.
Thánh lễ tuyên phong có khoảng 35.000 tín hữu tham dự. Từ đó, Chân phước Anrê Phú Yên được tôn kính như người chứng thứ nhất của Giáo hội Việt Nam và là mẫu gương đặc biệt cho các giáo lý viên.
Năm 2007, Nhà thờ Phước Kiều được nâng lên hàng Đền thánh. Đến năm 2008, Hội đồng Giám mục Việt Nam chọn ngày 26/7 hằng năm làm ngày kính Chân phước Anrê Phú Yên, bổn mạng các giáo lý viên Việt Nam.
Trong Thánh lễ năm nay, Đức Tổng Giám mục Giuse Đặng Đức Ngân cho biết việc nhắc lại cuộc đời và chứng tá của Chân phước Anrê Phú Yên không chỉ nhằm tưởng nhớ một nhân vật của quá khứ, nhưng còn để khơi dậy nơi cộng đoàn lòng tin, lòng mến và tinh thần dấn thân phục vụ.
Ngài đặc biệt mời gọi các giáo lý viên, những người nhận Chân phước Anrê Phú Yên làm bổn mạng, hãy noi gương vị tử đạo trẻ tuổi bằng đời sống trung thành, lòng nhiệt thành loan báo Tin Mừng và sự quảng đại trong sứ mạng giáo dục đức tin.
Theo Đức Tổng Giám mục Giuse, người Kitô hữu hôm nay có thể không phải đối diện với cái chết tử đạo như các chứng nhân thời Giáo hội sơ khai, nhưng vẫn được mời gọi sống tinh thần tử đạo mỗi ngày qua những hy sinh âm thầm, việc hãm mình, sám hối, tha thứ, quảng đại và yêu thương.
Đó chính là những của lễ đẹp nhất mà mỗi người có thể dâng lên Thiên Chúa, đồng thời cũng là cách thiết thực để tiếp nối chứng tá đức tin của Chân phước Anrê Phú Yên trong đời sống hôm nay.